XUNG ĐỘT TRUNG ĐÔNG LEO THANG, THỊ TRƯỜNG THÉP TRUNG QUỐC CHỊU ẢNH HƯỞNG NHƯ THẾ NÀO?
Cuối tháng 2 năm 2026, Israel tiến hành không kích nhằm vào các mục tiêu quân sự của Iran, xung đột tiếp tục leo thang, rủi ro địa chính trị tại Trung Đông gia tăng đáng kể, gây ra phản ứng dây chuyền cho thị trường hàng hóa, hàng không, dầu khí trên toàn cầu. Là quốc gia sản xuất thép và xuất khẩu thép lớn nhất thế giới, những ảnh hưởng do biến động leo thang ở Trung Đông đối với thị trường thép Trung Quốc trở thành tiêu điểm chú ý của toàn ngành hàng này và của nhiều độc giả.
Kết hợp dữ liệu công bố mới nhất và khảo sát ngành, đánh giá cốt lõi của chúng tôi là: Cuộc xung đột Trung Đông lần này ảnh hưởng không đáng kể đến ngành thương mại thép Trung Quốc, sẽ không làm thay đổi các yếu tố cơ bản của cung cầu trong thị trường nội địa. Tuy nhiên, ở vị thế chiến lược hiện nay, Trung Đông không chỉ là trung tâm năng lượng toàn cầu hay tuyến vận tải biển quan trọng mà còn là thị trường tăng trưởng xuất khẩu thép chính của Trung Quốc. Quyết định những thay đổi về tình hình chiến sự này sẽ tạo ra tác động gián tiếp đa chiều đến ngành thép nội địa thông qua bốn con đường sau: chi phí, vận tải, dự kiến nhu cầu và tâm lý thị trường. Mà hưởng sâu sắc nhất phụ thuộc vào cường độ xung đột, mức độ an toàn của các tuyến hàng hải then chốt và thời gian kéo dài xung đột.

I. Tác động trực tiếp đến thương mại hữu hạn, khó thay đổi thị trường cung-cầu
Nhìn từ dữ liệu toàn diện về thương mại thép song phương, quy mô thương mại liên quan đến khu vực xung đột này cực kỳ nhỏ. Thị trường trọng điểm xuất nhập khẩu thép của Trung Quốc đều nằm xa tâm điểm xung đột, do đó sự biến động của xung đột lần này rất khó để hình thành xung đột trực tiếp đa tầng cho thị trường thép nội địa Trung Quốc.
Về xuất khẩu, trọng điểm xuất khẩu thép của Trung Quốc ở Trung Đông chủ yếu tập trung ở các quốc gia có tình hình tương đối ổn định như Hội đồng hợp tác Vùng Vịnh (GCC) ven vinh Ba Tư, chứ không phải ở vùng tâm điểm xung điểm như Iran. Căn cứ trên dữ liệu chính thức do Tổng cục Hải quan Trung Quốc công bố vào tháng 3 năm 2026, năm 2025 Trung Quốc xuất khẩu tổng cộng 119 triệu tấn thép, tăng 7.5% so với cùng kỳ. Trong đó xuất khẩu thép sang Iran chỉ đạt 270 nghìn tấn, chiếm 0.22% tổng lượng thép xuất khẩu của cả nước; tháng 1, tháng 2 năm 2026, Trung Quốc xuất khẩu thép sang Iran đạt 41 nghìn tấn, tỷ trọng tiếp tục giảm còn 0.19%, quy mô thương mại gần như không đáng kể.
Năm 2025, Trung Quốc xuất khẩu thép sang thị trường Trung Đông tổng là 12,35 triệu tấn, trong đó xuất sang Saudi Arabia, UAE, Iraq và Kuwait – Thị trường trọng điểm tuyệt đối của Trung Quốc đạt 11,28 triệu tấn, chiếm 91.3% tổng lượng thép xuất khẩu sang Trung Đông. Chỉ riêng xuất khẩu sang Saudi Arabia đã đạt 5,82 triệu tấn, tăng 42.3% so với cùng kỳ năm ngoái. Thị phần thép Trung Quốc tại thị trường nhập khẩu Saudi Arabia hiện đã tăng từ 38% năm 2023 lên 56,2% vào tháng 1 năm 2026, vững vàng ở vị trí nguồn cung thép lớn nhất tại địa phương.
Về nhập khẩu, cán cân thương mại thép giữa Trung Quốc và Trung Đông luôn ở trạng thái xuất siêu lớn. Lượng thép nhập khẩu từ khu vực Trung Đông thường xuyên duy trì ở mức rất thấp, hoàn toàn không có khả năng xung đột tác động đến thị trường nội địa Trung Quốc qua nhập khẩu. Năm 2025, Trung Quốc chỉ nhập khẩu 127.000 tấn thép từ Trung Đông, chiếm 1,1% tổng lượng thép nhập khẩu của cả nước; trong hai tháng đầu năm 2026, lượng nhập khẩu tiếp tục giảm xuống còn 18.000 tấn, tác động đến cung cầu thép nội địa gần như bằng không. Xét theo cơ cấu chủng loại xuất khẩu, quy mô các mặt hàng thép chịu ảnh hưởng trực tiếp từ xung đột cũng rất nhỏ. Năm 2025, thép Trung Quốc xuất khẩu sang Trung Đông chủ yếu là thép tấm và thép thanh thông dụng, trong đó thép tấm chiếm 61,2% (chủ yếu là thép cuộn cán nóng, thép tấm dày trung bình), thép thanh chiếm 28,7% (chủ yếu là thép cây, thép dây), phục vụ nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng và sản xuất công nghiệp tại các thị trường trọng điểm Trung Đông. Riêng các chủng loại xuất khẩu sang Iran tập trung chủ yếu vào ống thép đúc, chiếm 62,1%, chủ yếu phục vụ phát triển mỏ dầu khí tại địa phương. Mặc dù chịu tác động rất rõ từ xung đột, nhưng tổng lượng có hạn, không thể làm xáo trộn cục diện cung cầu tổng thể của thị trường thép nội địa.
II. Bốn con đường gián tiếp quyết định tầm ảnh hưởng thực tế của cuộc xung đột
Tác động trực tiếp đến thương mại có hạn, không có nghĩa là những biến động của cuộc xung đột không ảnh hưởng thực chất đến ngành thép nội địa Trung Quốc. Vị thế chiến lược của Trung Đông quyết định rằng những thay đổi sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa gián tiếp toàn diện đến ngành thép Trung Quốc thông qua bốn con đường nối tiếp nhau.
1. Giá thành: biến động giá năng lượng, đẩy chi phí sản xuất thép
Ngành thép là ngành tiêu hao năng lượng điển hình, chi phí năng lượng chiếm hơn 30% chi phí sản xuất mỗi tấn thép của các nhà máy lò cao truyền thống, trong khi Trung Đông là trung tâm của thương mại năng lượng toàn cầu. Dữ liệu từ Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho thấy, khoảng 30% thương mại dầu thô đường biển và 20% thương mại khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) toàn cầu phải vận chuyển qua eo biển Hormuz. Xung đột leo thang đã trực tiếp gây ra biến động mạnh về giá năng lượng quốc tế.
Ngày 24 tháng 2 năm 2026 sau khi sảy ra cuộc không kích, tính tới ngày 1 tháng 3, giá dầu thô Brent đã chạm mức cao nhất từ 89,2 USD/thùng lên đến 108,7 USD/thùng, tổng mức tăng trong 7 phiên giao dịch vượt 21,8%; cùng kỳ, giá khí tự nhiên kỳ hạn trên sàn NYMEX tăng tổng cộng 18,3%, giá than nhiệt lượng và than cốc chờ trong nước cũng tăng theo.
Theo tính toán của nền tảng chuyên ngành thép uy tín Mysteel công bố ngày 2 tháng 3 vừa qua, đợt tăng giá năng lượng này đã khiến chi phí sản xuất mỗi tấn thép của các nhà máy lò cao truyền thống trong nước tăng từ 120-180 NDT/tấn, trong đó chi phí nhiên liệu chiếm hơn 70%; các nhà máy lò điện chịu ảnh hưởng từ việc tăng giá điện công nghiệp, chi phí mỗi tấn thép tăng cao hơn, đạt 160-220 NDT/tấn, tạo thành hậu thuẫn về mặt chi phí cho giá thép.
Bên cạnh đó, sự bất ổn về nguồn cung từ phía nguyên liệu thô cũng làm gia tăng thêm áp lực chi phí: Về quặng sắt, năm 2025 Trung Quốc nhập khẩu 48,72 triệu tấn quặng sắt từ Iran, chiếm 5,2% tổng lượng quặng sắt nhập khẩu của cả nước, là nguồn cung quặng sắt lớn thứ tư của Trung Quốc. Sau khi xung đột leo thang, các cảng xuất khẩu quặng sắt chính ở miền nam Iran tạm dừng tàu thương mại ra vào, làm tình trạng cơ cấu tồn kho quặng sắt trong nước càng thêm căng thẳng. Về nguyên liệu phụ trợ, năm 2025, lượng lưu huỳnh Trung Quốc nhập khẩu từ Trung Đông chiếm 68% tổng lượng nhập khẩu. Lưu huỳnh là nguyên liệu phụ trợ cần thiết cho công đoạn tẩy rửa và xử lý nước trong ngành thép. Xung đột khiến giá lưu huỳnh tăng vọt 17% trong ngắn hạn, tiếp tục đẩy chi phí nguyên liệu phụ trợ của các nhà máy thép lên cao.

2. Vận tải: Rủi ro hàng hải gia tăng, thu hẹp biên độ lợi nhuận xuất khẩu
Eo biển Hormuz và Biển Đỏ là các tuyến hàng hải trọng điểm cho xuất khẩu thép của Trung Quốc đến Trung Đông, châu Âu và châu Phi. Tình hình leo thang trực tiếp dẫn đến rủi ro an ninh hàng hải tăng đột biến, gây ra phản ứng dây chuyền trong hệ thống logistics, và đây cũng là tác động trực tiếp nhất đối với ngành thép Trung Quốc ở trung kỳ.
Kể từ ngày 26 tháng 2 năm 2026, các hãng vận tải đường biển lớn trên thế giới lần lượt ra thông báo, tuyên bố tạm ngưng vô thời hạn việc tàu ghé cảng trên các tuyến liên quan đến eo biển Hormuz, đồng thời áp dụng phụ phí rủi ro chiến tranh đối với tất cả hàng hóa trên các tuyến Trung Đông. Mức phổ biến là 1.000-3.000 USD/container, mức tăng phụ phí ở một số tuyến đường biển thậm chí còn vượt quá giá cước vận chuyển cơ bản.
Con đường vận chuyển này đã được chứng minh rõ ràng trong cuộc khủng hoảng Biển Đỏ từ cuối năm 2023 đến giữa năm 2024. Khi đó, các cuộc tấn công liên tục của lực lượng Houthi vào tàu thương mại trên Biển Đỏ đã buộc các hãng tàu lớn trên thế giới phải đổi hướng đi vòng qua Mũi Hảo Vọng, khiến hành trình xuất khẩu thép của Trung Quốc đến châu Âu kéo dài thêm 14-20 ngày, chi phí vận tải tích lũy tăng hơn 120%, trực tiếp dẫn đến sản lượng thép xuất khẩu của Trung Quốc sang EU trong quý 1 năm 2024 giảm 18,7% so với quý trước; cùng kỳ, Thổ Nhĩ Kỳ và Ấn Độ nhờ lợi thế vị trí địa lý đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị phần của Trung Quốc. Còn lần này Eo biển Hormuz bị ảnh hưởng là tuyến hàng hải toàn cầu trọng điểm hơn cả Biển Đỏ, phạm vi và mức độ ảnh hưởng khi bị tắc nghẽn rất có thể sẽ vượt xa cuộc khủng hoảng Biển Đỏ trước đây.
Giá cước vận tải tăng vọt lần này đã trực tiếp bào mòn ưu thế về giá cả trong xuất khẩu thép của Trung Quốc. Theo dữ liệu khảo sát của Mysteel công bố ngày 1 tháng 3, hiện tại hơn 60% thương nhân xuất khẩu thép trong nước đã tạm dừng báo giá cho các đơn hàng mới trên tuyến Trung Đông, chỉ duy trì thực hiện các đơn hàng dài hạn cũ, các thương nhân vừa và nhỏ về cơ bản đã rút hoàn toàn khỏi thị trường Trung Đông. Theo ước tính của Hiệp hội Gang thép Trung Quốc, nếu hoạt động vận tải qua eo biển Hormuz bị đình trệ kéo dài 1 tháng, Trung Quốc sẽ có hơn 1 triệu tấn thép xuất khẩu bị ảnh hưởng trực tiếp; nếu đình trệ kéo dài hơn 3 tháng, thị phần mà Trung Quốc đã xây dựng trong nhiều năm tại Trung Đông sẽ đối mặt với nguy cơ bị thay thế bởi các đối thủ cạnh tranh như Thổ Nhĩ Kỳ và Ấn Độ.
3. Nhu cầu: Tiến độ cơ sở hạ tầng chậm lại, kỳ vọng tăng trưởng dài hạn chịu áp lực
Trung Đông là thị trường tăng trưởng cốt lõi cho xuất khẩu thép của Trung Quốc, cũng là động lực tăng trưởng chính cho xuất khẩu thép dọc theo "Vành đai và Con đường". Các kế hoạch chuyển đổi cơ sở hạ tầng quy mô lớn trong khu vực này là bệ đỡ quan trọng cho sự tăng trưởng dài hạn của ngành xuất khẩu thép Trung Quốc, với tình hình leo thang như hiện nay đã trực tiếp làm gia tăng sự bất ổn định ở đầu cầu.Các quốc gia GCC dựa vào đồng đô la dầu mỏ đã đưa ra các kế hoạch chuyển đổi kinh tế và cơ sở hạ tầng quy mô lớn. Riêng "Tầm nhìn 2030" của Ả Rập Xê Út đã lên kế hoạch cho các dự án cơ sở hạ tầng với tổng vốn đầu tư trên 1.200 tỷ USD, trong đó tổng nhu cầu thép cho ba dự án tiêu biểu như thành phố NEOM và dự án du lịch Biển Đỏ đã vượt quá 50 triệu tấn. Chỉ riêng năm 2026, lượng thép dự kiến sử dụng cho thành phố NEOM là 4,8 triệu tấn, trong đó hơn 70% sẽ được nhập khẩu từ Trung Quốc. Năm 2025, sản lượng thép xuất khẩu của Trung Quốc sang Iraq và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất lần lượt tăng 68,2% và 27,5% so với cùng kỳ, tốc độ tăng trưởng vượt xa mức trung bình cả nước.
Nhưng tình hình leo thang trực tiếp khiến tâm lý ngại rủi ro đầu tư trong khu vực gia tăng, tiến độ triển khai các dự án cơ sở hạ tầng chậm lại đáng kể. Theo số liệu mới nhất do MEED - nền tảng thông tin uy tín trong ngành xây dựng cơ sở hạ tầng Trung Đông, công bố, sau khi xung đột leo thang vào tháng 2 năm 2026, ba nước Ả Rập Xê Út, UAE và Kuwait đã tạm dừng tổng cộng 8 vụ đấu thầu dự án cơ sở hạ tầng với tổng vốn đầu tư trên 380 tỷ USD. Việc tạm dừng dự án trực tiếp dẫn đến nhu cầu mua thép tương ứng bị trì hoãn, một số dự án thậm chí đối mặt với nguy cơ bị hủy bỏ. Các kế hoạch nội địa hóa tại Trung Đông của các doanh nghiệp thép hàng đầu Trung Quốc cũng bị ảnh hưởng trực tiếp, lượng đơn đặt hàng mới từ các dự án liên quan đã giảm rõ rệt so với kế hoạch ban đầu.
Đáng chú ý, giá dầu tăng do tình hình leo thang có tác động hai chiều đối với nhu cầu cơ sở hạ tầng của các nước sản xuất dầu Trung Đông: Trong thời gian ngắn, giá dầu tăng trực tiếp đẩy cao nguồn thu nhập của các nước GCC như Ả Rập Xê Út và UAE, nếu giá dầu liên tục duy trì ở mức cao, họ sẽ có thêm nguồn vốn đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng; nhưng nếu xung đột kéo dài và lan rộng, dẫn đến suy thoái kinh tế toàn cầu và nhu cầu dầu thô giảm mạnh, giá dầu sẽ đối mặt với nguy cơ trượt dốc, từ đó ảnh hưởng đến khả năng đầu tư cơ sở hạ tầng của các nước sản xuất dầu, đây cũng là yếu tố bất định lớn nhất về phía cầu trong tương lai.
4. Tâm lý: Bất ổn địa chính trị khuếch đại biến động thị trường ngắn hạn
Sự bất ổn do xung đột địa chính trị Trung Đông sẽ trực tiếp khuếch đại biến động trên thị trường thép kỳ hạn và giao ngay trong nước, và đây cũng là cảm nhận trực quan nhất của thị trường. Về bản chất, yếu tố tâm lý là bộ khuếch đại của ba yếu tố cơ bản nêu trên là chi phí, vận tải và nhu cầu, nó không làm thay đổi xu hướng dài hạn của ngành nhưng sẽ làm gia tăng đáng kể biến động thị trường ngắn hạn.
Sau khi tin tức về cuộc không kích ngày 26 tháng 2 năm 2026 được công bố, thị trường thép kỳ hạn trong nước đã phản ứng nhanh chóng. Hợp đồng tương lai chính của thép cây và thép cuộn cán nóng trên Sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải lần lượt tăng 2,35% và 2,78% trong ngày; thị trường giao ngay cũng tăng theo, giá phôi thép Đường Sơn đã được điều chỉnh tăng 80 NDT/tấn trong ngày, giá giao ngay thép cây và thép cuộn cán nóng tại các thành phố lớn trên cả nước phổ biến tăng 50-150 NDT/tấn. Theo dữ liệu khảo sát của Lange Steel, sau khi xung đột leo thang, tâm lý kỳ vọng tăng giá trên thị trường thép trong nước đã ấm lên, ý định dự trữ hàng của các thương nhân và tốc độ bổ sung tồn kho của người dùng cuối hạ nguồn đều tăng tốc, càng khuếch đại thêm biến động ngắn hạn của thị trường.
Ngoài ra, rủi ro địa chính trị còn làm gia tăng biến động tỷ giá RMB. Kể từ ngày 24 tháng 2, tỷ giá RMB so với USD đã mất giá tích lũy hơn 0,8%. Một mặt, điều này sẽ tiếp tục đẩy cao chi phí nguyên liệu nhập khẩu như quặng sắt và dầu thô của Trung Quốc; mặt khác, nó cũng sẽ cải thiện nhẹ khả năng cạnh tranh về giá của hàng xuất khẩu thép Trung Quốc, tạo ra tác động hai chiều.
III. TỔNG KẾT VÀ PHÁN ĐOÁN ẢNH HƯỞNG QUA CÁC GIAI ĐOẠN
Ngày 1 tháng 3 năm 2026, tại Hội nghị phân tích tình hình ngành được triệu tập, Hiệp hội thép Trung Quốc đã khẳng định rõ ràng: Ảnh hưởng của tình hình Trung Đông đối với ngành thép Trung Quốc là hoàn toàn có thể kiểm soát, sẽ không làm thay đổi xu hướng vận hành dài hạn của ngành. Tuy nhiên, cần hết sức cảnh giác với các rủi ro về vận tải biển, biến động chi phí và nguy cơ mất thị phần do xung đột lan rộng.
Kết hợp với tình hình hiện tại và dữ liệu ngành, chúng tôi đưa ra đánh giá tác động rõ ràng từ ba khía cạnh:
1. Ngắn hạn (trong vòng 1 tháng): Việc xung đột đẩy chi phí tăng cao và làm gia tăng tâm lý lo ngại sẽ tạo thành vùng hỗ trợ cứng cho giá thép trong nước, biến động thị trường sẽ gia tăng; tuy nhiên, tác động trực tiếp lên thương mại vẫn có thể bỏ qua, các yếu tố cung - cầu cơ bản của ngành sẽ không có sự thay đổi thực chất.
2. Trung hạn (1-3 tháng): Biến số cốt lõi gây ảnh hưởng là tình hình an ninh hàng hải tại eo biển Hormuz. Nếu luồng hàng hải trở lại bình thường, chi phí vận tải biển hạ nhiệt, đơn hàng xuất khẩu sẽ nhanh chóng được phục hồi và ảnh hưởng sẽ dần biến mất. Ngược lại, nếu luồng hàng hải tiếp tục bị tê liệt, nguy cơ vỡ đơn hàng xuất khẩu và mất thị phần sẽ gia tăng nhanh chóng.
3. Dài hạn (trên 3 tháng): Biến số cốt lõi là việc xung đột có lan rộng và kéo dài hay không. Nếu tình hình khu vực tiếp tục bất ổn, sẽ kéo theo sự phục hồi kinh tế toàn cầu chậm lại và đầu tư cơ sở hạ tầng tại Trung Đông bị ảnh hưởng, từ đó tác động đến logic tăng trưởng dài hạn của xuất khẩu thép Trung Quốc. Nếu tình hình ổn định trở lại, logic tăng trưởng về nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng và tiêu thụ thép do quá trình chuyển đổi kinh tế của Trung Đông mang lại vẫn không thay đổi căn bản, và khu vực này vẫn sẽ là động lực tăng trưởng cốt lõi cho xuất khẩu thép của Trung Quốc.
Nhìn chung, không cần quá hoang mang trước những biến động ngắn hạn của thị trường, nhưng cũng cần liên tục theo dõi những thay đổi tiềm ẩn từ diễn biến tiếp theo của xung đột. Đối với những người hoạt động trong ngành, việc chủ động thực hiện quản lý đơn hàng, kiểm soát chi phí và điều chỉnh cơ cấu thị trường là giải pháp tối ưu để ứng phó với sự bất định.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
CÔNG TY TNHH CÔNG NGHIỆP QUỐC TẾ CHÂU DƯƠNG
Add: Tầng 10, Tòa Ladeco, số 266 Đội Cấn, P.Ngọc Hà, Hà Nội
Email: kd.thepfengyang@gmail.com
Nguồn: https://baijiahao.baidu.com/s?id=1858734502998587957&wfr=spider&for=pc

Để lại bình luận